Xoáy Thuận Narelle Bản đồ đường đi lịch sử

Đã Tan
Lưu trữ khí tượng cuối cùng: 28/03/2026 09:53 GMT+8

Giờ địa phương · Hoạt động từ 17/03/2026 16:46 GMT+10 đến -

Loading live hurricane tracking map...
Bản đồ theo dõi bão thời gian thực
📊

Phân tích dân số và cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng

Phân tích khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng dựa trên phạm vi gió bão.

Radius: ~600 km
👥 Dân số dự kiến bị ảnh hưởng
13.84Mpeople
🏥 Bệnh viện và cơ sở y tế
252facilities
🏕️ Điểm sơ tán và nơi trú ẩn khẩn cấp
769centers
🏫 Trường học và cơ sở hạ tầng công cộng
1846buildings

Thông Tin Cơ Bản

Phân Loại Cao Nhất

Áp Thấp Nhiệt Đới

Áp Suất Tối Thiểu

0 hPa

Tốc Độ Gió Tối Đa

313 km/h

Khu Vực

South Pacific

Sự Kiện Quan Trọng

Hình Thành

17/03/2026 16:46 GMT+10

12.7°S, 156.3°E

Các câu hỏi thường gặp về Narelle

Narelle hiện đang ở gần khu vực 29.5° vĩ nam, 116.9° kinh đông, với tốc độ gió duy trì tối đa khoảng 313 km/h (khoảng 169 hải lý/giờ).
Có, Narelle hiện đang hoạt động như một hệ thống Áp Thấp Nhiệt Đới, với tốc độ gió duy trì tối đa khoảng 313 km/h (khoảng 169 hải lý/giờ).

Các Cột Mốc Khí Tượng Trọng Yếu

Tổng hợp từ các bản tin chính thức (NCHMF, JMA, JTWC, CMA). Được cấp phép cho nghiên cứu phi thương mại và giáo dục.

🌀

Hình Thành & Phân Loại Ban Đầu

Xoáy Thuận Nhiệt Đới
📅 17/03/2026 06:46 (17/03/2026 16:46 17/3/2026)🌐 12.7°S, 156.3°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió119 km/h (64 kt)
Áp Suất-
⚡

Nâng Cấp Lên Cấp Độ Bão Cuồng Phong / Typhoon

Xoáy Thuận Nhiệt Đới
📅 17/03/2026 12:59 (17/03/2026 22:59 17/3/2026)🌐 12.5°S, 155.5°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió137 km/h (74 kt)
Áp Suất-
🏆

Cường Độ Cực Đại Suốt Vòng Đời (LMI)

Xoáy Thuận Nhiệt Đới
📅 19/03/2026 06:46 (19/03/2026 16:46 19/3/2026)🌐 13.7°S, 146.5°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió313 km/h (169 kt)
Áp Suất-
🚨

Tâm Bão Đổ Bộ Đất Liền

📍 Australia, Queensland, Cooktown
Xoáy Thuận Nhiệt Đới
📅 19/03/2026 18:56 (20/03/2026 04:56 20/3/2026)🌐 13.7°S, 144.2°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió35 km/h (19 kt)
Áp Suất-
🔄

Tái Tổ Chức / Tăng Cường Trở Lại

Xoáy Thuận Nhiệt Đới
📅 19/03/2026 18:56 (20/03/2026 04:56 20/3/2026)🌐 13.7°S, 144.2°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió35 km/h (19 kt)
Áp Suất-
🚨

Đổ Bộ Đất Liền Lần #2

📍 Australia, Northern Territory, Katherine
Áp Thấp Nhiệt Đới
📅 22/03/2026 05:07 (22/03/2026 14:37 22/3/2026)🌐 13.9°S, 133.7°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió35 km/h (19 kt)
Áp Suất-
🚨

Đổ Bộ Đất Liền Lần #3

📍 Australia, Western Australia, Carnarvon
Xoáy Thuận Nhiệt Đới
📅 27/03/2026 11:47 (27/03/2026 19:47 27/3/2026)🌐 25.0°S, 114.2°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió35 km/h (19 kt)
Áp Suất-
🌫️

Thông Báo Cuối Cùng / Tan

Áp Thấp Nhiệt Đới
📅 28/03/2026 01:53 (28/03/2026 09:53 28/3/2026)🌐 29.5°S, 116.9°E🏛️ Official
Tốc Độ Gió-
Áp Suất-

💾Xuất Dữ Liệu Thực Nghiệm Best-Track Nghiên Cứu

⚪ Kho lưu trữ chính thức đã hoàn tất

Dữ liệu khí tượng chuẩn hóa sẵn sàng cho Excel, Python Pandas hoặc GIS, kèm chứng nhận trích dẫn học thuật và đối chiếu đa cơ quan.

Báo Cáo Hồi Cứu Khí Tượng & Phân Tích Thiên Tai

Bão Narelle 2026 xuyên qua ba vùng đất Australia với cường độ cuồng phong hiếm gặp

Bão Narelle hình thành từ vùng áp thấp nhiệt đới gần quần đảo Solomon ngày 15 tháng 3 năm 2026 và được đặt tên ngày 17 tháng 3. Hệ thống nhanh chóng tăng cường, đạt cực đại ngày 19 tháng 3 trên vùng biển gần 13,6° Nam, 146,5° Đông với sức gió duy trì khoảng 215 km/h theo chuẩn 10 phút của Cục Khí tượng Australia và khoảng 229 km/h theo chuẩn 1 phút quốc tế. Narelle sau đó đi qua miền bắc Australia, gây gió mạnh, mưa lớn và gián đoạn hoạt động tại nhiều khu vực ven biển trước khi tiếp tục tái mạnh lên trên vùng biển phía tây. Đây là cơn bão thứ hai kể từ Ingrid (2005) có hành trình xuyên qua ba vùng lãnh thổ Australia ở cường độ mạnh.

Hình thành gần Solomon ngày 15/3 - Tăng cấp thần tốc trong 42 giờ

Vùng áp thấp nhiệt đới tiền thân của Narelle xuất hiện gần phía nam quần đảo Solomon ngày 15 tháng 3 năm 2026. Hệ thống di chuyển chủ yếu theo hướng tây trong những ngày tiếp theo, duy trì môi trường thuận lợi với nhiệt độ mặt biển cao và hoàn lưu đối lưu phát triển dần.

Ngày 17 tháng 3, cơ quan khí tượng xác định hệ thống đạt trạng thái bão nhiệt đới và đặt tên Narelle. Khi mới được đặt tên, bão có sức gió khoảng 72 km/h, nhưng quá trình tăng cường diễn ra nhanh chóng. Sau khoảng 21 giờ, tốc độ gió tăng lên gần 118 km/h, tương đương cấp 1 theo thang phân loại bão của Australia.

Đến ngày 18 tháng 3, Narelle tiếp tục mạnh lên thành bão cấp 3 theo thang Australia với sức gió khoảng 183 km/h. Trong khoảng 42 giờ kể từ khi được đặt tên, cấu trúc mây đối lưu của bão đã phát triển thành một hệ thống xoáy thuận mạnh với vùng tâm bão rõ ràng.

Ngày 19 tháng 3, Narelle đạt cường độ cực đại gần tọa độ 13,6° Nam và 146,5° Đông. Theo dữ liệu của Cục Khí tượng Australia, sức gió duy trì cực đại đạt 115 hải lý/giờ, tương đương khoảng 215 km/h theo chuẩn gió trung bình 10 phút; theo chuẩn gió trung bình 1 phút quốc tế, cường độ này tương đương khoảng 229 km/h. Áp suất trung tâm thấp nhất được ghi nhận theo dữ liệu của Cục Khí tượng Australia là 933 mb.

Theo cách đối chiếu với thuật ngữ khí tượng Việt Nam, cường độ này thuộc nhóm bão rất mạnh, tương đương mức cuồng phong mạnh theo các hệ thống phân loại quốc tế. Việc quy đổi cấp độ cần căn cứ vào tiêu chuẩn đo gió của từng cơ quan khí tượng, do Australia, Việt Nam và các trung tâm dự báo quốc tế có phương pháp đánh giá khác nhau.

Đổ bộ Queensland cấp 4 - Gió giật 115 km/h tại Lockhart River

Sau khi đạt đỉnh trên biển, Narelle tiến về phía tây và ảnh hưởng trực tiếp đến vùng cực bắc bang Queensland của Australia. Ngày 20 tháng 3, bão đi vào đất liền giữa Coen và Lockhart River với cường độ cấp 4 theo thang phân loại của Australia.

Tại khu vực ven biển Queensland, gió mạnh gây cây đổ, cành gãy, mất điện cục bộ và một số thiệt hại đối với công trình dân sinh. Trạm quan trắc tại Lockhart River ghi nhận gió giật mạnh nhất khoảng 115 km/h. Mưa lớn đi kèm hoàn lưu bão gây ngập một số tuyến đường và khu vực thấp trũng.

Sau khi vượt qua bán đảo Cape York, Narelle suy yếu khi đi qua đất liền rồi tiến vào vịnh Carpentaria. Tuy nhiên, hoàn lưu của bão vẫn duy trì vùng mưa rộng và gió mạnh trên khu vực phía bắc Australia.

Ngày 22 tháng 3, hệ thống tiếp tục đi vào khu vực bờ biển Lãnh thổ Bắc Australia gần giữa Nhulunbuy và Groote Eylandt với cường độ cấp 3 theo thang Australia. Tác động chính tại đây gồm gió mạnh, cây cối bị quật đổ và mất điện tại một số khu vực.

Trong giai đoạn di chuyển qua vùng phía bắc Australia, Narelle tiếp tục gây mưa lớn trên các lưu vực đã có độ ẩm cao. Khu vực sông Daly chịu ảnh hưởng đáng kể do nền đất trước đó đã trải qua các đợt lũ lớn.

Ngày 25 tháng 3, sau khi ra lại vùng biển phía tây bắc Broome, Narelle tái phát triển thành bão mạnh. Khi di chuyển song song với bờ biển Pilbara, hoàn lưu rộng của hệ thống khiến nhiều khu vực ven biển trải qua thời gian dài có gió mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động cảng biển, hàng không và công nghiệp.

Theo dõi Biển Đông từ Việt Nam - Trung Quốc và Philippines duy trì cảnh báo khu vực

Narelle không đi vào Biển Đông và không gây đổ bộ trực tiếp vào Việt Nam, Trung Quốc hoặc Philippines. Tuy nhiên, diễn biến của hệ thống được theo dõi trong bối cảnh các quốc gia ven biển châu Á duy trì giám sát liên tục đối với hoạt động xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực biển rộng.

Tại Việt Nam, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia duy trì theo dõi các hệ thống thời tiết nguy hiểm trên Biển Đông, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn diện rộng, gió giật mạnh và sóng lớn trên biển. Các bản tin dự báo sử dụng các thuật ngữ cảnh báo trong nước như cấp gió, cấp độ rủi ro thiên tai và phạm vi ảnh hưởng trên biển để phục vụ công tác phòng tránh.

Đối với vùng biển Philippines, nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng của các xoáy thuận nhiệt đới từ Tây Bắc Thái Bình Dương, việc giám sát các hệ thống mạnh ngoài khơi giúp đánh giá nguy cơ đối với tàu thuyền, hoạt động hàng hải và thời tiết ven biển. Trung Quốc cũng duy trì mạng lưới quan trắc ven biển nhằm theo dõi các hệ thống nhiệt đới có khả năng ảnh hưởng đến khu vực Biển Đông và bờ biển phía nam.

Trong quá trình tồn tại, Narelle trải qua các giai đoạn tăng cường, suy yếu và tái phát triển khi di chuyển qua biển và đất liền. Các cơ quan khí tượng theo dõi quỹ đạo, sức gió, áp suất trung tâm và cấu trúc mây của hệ thống để xác định cường độ tại từng thời điểm.

Tan rã tại 32,3° Nam - 119,0° Đông ngày 28/3: Hồi kết của Narelle

Sau lần đạt cường độ mạnh cuối cùng trên vùng biển phía tây Australia, Narelle bắt đầu suy yếu khi di chuyển về phía nam và đông nam. Ngày 26 tháng 3, bão đạt đỉnh cuối cùng với sức gió duy trì khoảng 85 hải lý/giờ, tương đương khoảng 155 km/h theo chuẩn gió trung bình 10 phút của Cục Khí tượng Australia.

Ngày 27 tháng 3, Narelle giảm xuống cường độ cấp 1 khi tiếp tục di chuyển trên vùng biển phía tây Australia. Hoàn lưu bão suy yếu nhanh khi hệ thống tiến vào môi trường không còn thuận lợi cho việc duy trì cường độ xoáy thuận nhiệt đới.

Đến 06 giờ UTC ngày 28 tháng 3 năm 2026, Narelle suy yếu thành áp thấp nhiệt đới tại vị trí khoảng 32,3° Nam và 119,0° Đông. Sức gió còn lại của hệ thống được ghi nhận khoảng 53 km/h trước khi hoàn toàn tan rã.

🛡️

Minh bạch dữ liệu khí tượng & Thông báo an toàn công cộng

Mô hình theo dõi và bản tin StormAtlas được tổng hợp từ các bản tin công khai của NOAA/NHC, JTWC, JMA và CMA nhằm nâng cao nhận thức tình huống và nghiên cứu khoa học. Đối với lệnh sơ tán khẩn cấp, cảnh báo nguy hiểm và quyết định an toàn tính mạng, vui lòng tuân thủ nghiêm ngặt chỉ thị từ cơ quan quản lý khẩn cấp địa phương và cơ quan khí tượng quốc gia.